Cách điều trị ung thư máu dòng tủy mãn tính pha tăng tốc 11/03/2014 – Đăng trong: Ung thư máu – Thẻ: ,

Cách điều trị ung thư máu

Cách điều trị ung thư máu trong giai đoạn này có thể là các chất ức chế tyrosine kinase, các interferon hoặc cấy ghép tế bào gốc. Tuy nhiên, cố gắng để quay trở lại pha mãn tính, khi đó đáp ứng điều trị sẽ có nhiều tiến triển.

Cách điều trị ung thư máu dòng tủy mãn tính (CML) theo:

Pha tăng tốc

Khi CML là ở pha tăng tốc, tế bào bệnh bạch cầu bắt đầu tích lũy trong cơ thể nhanh chóng, gây nên các triệu chứng. Các tế bào bệnh bạch cầu thường đạt được đột biến gen mới, giúp chúng phát triển và có thể làm cho cách điều trị ung thư máu kém hiệu quả.

Các cách điều trị ung thư máu cho pha tăng tốc của CML tùy thuộc vào những điều trị gì mà bệnh nhân đã có. Thông thường, các tùy chọn tương tự như đối với bệnh nhân có pha mãn tính của CML, nhưng những bệnh nhân ở pha tăng tốc của CML ít có xu hướng đáp ứng lâu dài với bất kỳ cách điều trị ung thư máu nào.

Nếu bệnh nhân không có bất kỳ cách điều trị ung thư máu nào, một TKI (chất ức chế tyrosine kinase) sẽ được sử dụng. Imatinib (thường ở liều cao hơn so với sử dụng ở pha mãn tính của CML) là một tùy chọn cho hầu hết mọi người. Hầu hết bệnh nhân trong pha này có thể đáp ứng cách điều trị ung thư máu với imatinib, nhưng những đáp ứng dường như không lâu dài như ở những bệnh nhân trong pha mãn tính. Vẫn còn, khoảng một nửa bệnh nhân trong số này vẫn còn sống sau 4 năm. Những thuốc mới như dasatinib và nilotinib thường được sử dụng trong pha này, và các loại thuốc khác đang được nghiên cứu.

Nếu như bệnh nhân đã dùng imatinib rồi, liều lượng có thể được tăng lên. Cách điều trị ung thư máu khác là chuyển sang một trong số các TKI khác (dasatinib, nilotinib, hoặc bosutinib). Đôi khi các tế bào bệnh CML được xét nghiệm để xem nếu như chúng có sự thay đổi di truyền (đột biến) có thể có nghĩa là một TKI nhất định là nhiều hơn hoặc ít có khả năng làm việc. Trong bệnh CML không có sự đột biến, ponatanib là một cách điều trị ung thư máu sau khi tất cả các TKI khác đã được cố thử.

Interferon là một tùy chọn khác, nhưng nó cũng ít hiệu quả hơn trong pha này so với pha mãn tính. Khoảng 20% số bệnh nhân có những đáp ứng với hóa trị, nhưng những đáp ứng này thường ngắn hơn 6 tháng.

Cấy ghép tế bào gốc dị sinh có thể là tùy chọn tốt nhất cho hầu hết bệnh nhân trẻ đủ điều kiện. Khoảng 20% đến 40% bệnh nhân với pha tăng tốc CML còn sống vài năm sau khi cấy ghép tế bào gốc. Hầu hết các bác sĩ muốn bệnh bạch cầu được kiểm soát, tốt nhất là trong sự thuyên giảm, trước khi bắt đầu quy trình cấy ghép. Để nhận được điều này, hóa trị thường sẽ được sử dụng.

Trong một số trường hợp, một cấy ghép tế bào gốc tự thân nó có thể là một tùy chọn để cố gắng có được CML trở lại giai đoạn mãn tính, nhưng rất khó để dẫn đến một kết quả điều trị.

By hoai giang

« Trị ung thư gan bằng đông y
Bệnh ung thư vú có chữa được không ? »